Tour du lịch | Event | Vé máy bay | Tàu hỏa | Xe du lịch | Khách sạn | Hướng dẫn viên | Visa | Liên hệ  
 
Trang chủ
Tin tức
Danh bạ nhà hàng
Địa danh
54 Dân tộc Việt Nam
63 Tỉnh thành
Ẩm thực
Lễ hội
Cần biết khi đi tour
Hình ảnh
xe du lich tet
xe du lich tet
xe du lich tet
ĐỊA DANH DU LỊCH PHÚ THỌ - ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH PHÚ THỌ

Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng trung du Bắc Bộ, với trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Việt Trì, cách thủ đô Hà Nội 80km và sân bay quoc tế Nội Bài 50km.
Địa hình chủ yếu là đồi núi với 3 con sông lớn chảy qua đó là: sông Hồng (sông Thao), sông Đà.
Diện tích tự nhiên : 3.519,6 km²
Ngày 5 tháng 5 năm 1903, tỉnh lỵ tỉnh Hưng Hóa chuyển từ làng Hưng Hóa lên làng Phú Thọ gần đường xe lửa hơn. Do đó tỉnh Hưng Hóa cũng đổi tên thành tỉnh Phú Thọ. Khi đó tỉnh Phú Thọ gồm có 2 phủ (Đoan Hùng, Lâm Thao), 8 huyện (Tam Nông, Thanh Thủy, Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh, Cẩm Khê, Hạ Hòa, Hạc Trì) và 2 châu (Thanh Sơn, Yên Lập).
Thị xã Phú Thọ và thị xã Việt Trì được thành lập năm 1907, thị xã Phú Thọ được chọn là tỉnh lỵ của Phú Thọ. Đến năm 1962, thành phố Việt Trì được thành lập theo quyết định số 65 của Hội đồng Chính phủ...
Thành phố Việt Trì với diện tích 71.2 km2 được coi là đô thị cửa ngõ của các tỉnh Tây Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ, là trung tâm chuyên ngành về văn hóa - kinh tế vùng Tây Bắc tổ quốc. Nằm cách thủ đô Hà Nội 80 km, là nơi gặp nhau của ba con sông: sông Hồng, sông Lô và sông Đà, thành phố “ngã ba sông” có mạng lưới giao thông quan trọng về đường sắt, đường bộ và đường thủy, là đầu mối giao lưu giữa các huyện lỵ trong tỉnh và các tỉnh trong vùng trên hành lang kinh tế Côn Minh - Hải Phòng.
Tháng 1-1968, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 504 tiến hành hợp nhất hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú, thành phố Việt Trì trở thành tỉnh lỵ của Vĩnh Phú.
Đến kỳ họp thứ 10 Quốc hội IX (tháng 11/1996) đã thông qua Nghị quyết về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó có việc tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ. Tỉnh Phú Thọ chính thức được tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 1-1-1997, ngay năm sau Phú Thọ được công nhận là tỉnh miền núi.
Nơi đây được xem là vùng đất tổ, cội nguồn của dân tộc Việt Nam, là nơi đã hình thành nhà nước Văn Lang- nhà nước đầu tiên của Việt Nam với thủ đô là Phong Châu. Và cũng chính vì vậy mà Phú Thọ có một nền văn hoá rực rỡ lâu đời, những di chỉ văn hoá Sơn Vi, Đồng Đậu, Làng Cả và nhiều đình, chùa, lăng tẩm còn lại nơi vùng núi Nghĩa Lĩnh. Cho thấy, đất Phong Châu là một trung tâm văn hoá của dân tộc.
Qua các cuộc tìm kiếm, khai quật khảo cổ, các nhà khoa học còn tìm thấy Phú Thọ có rất nhiều hiện vật đồ đá, đồ đồng minh chứng thời kỳ các Vua Hùng dựng nước Văn Lang. Trong đó có các di chỉ nổi tiếng như: Gò Mun, Sơn Vi, Làng Cả, Phùng Nguyên... có niên đại cách đây từ 4 - 6 ngàn năm. Ngoài ra, Phú Thọ còn tồn tại rất nhiều các di tích, sự tích, truyện kể, truyền thuyết về đời sống sinh hoạt văn hoá, công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước qua hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Các lễ hội diễn ra trên quê hương Phú Thọ cũng rất đa dạng, phong phú, mang nét văn hoá đặc sắc của những bản làng, trên 20 dân tộc sinh sống tại Phú Thọ như: Hội Phết - Hiền Quan, Hội bơi chải - Bạch Hạc, Hội Rước voi - Đào Xá, Hội rước Chúa Gái - Hy Cương, Hội ném còn của đồng bào Dân tộc Mường....
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Khu di tích lịch sử Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, là nơi thờ các vua Hùng có công dựng nước, tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Ngày xa xưa, vùng đất này là khu vực trung tâm của nước Văn lang, nằm giữa hai dòng sông giống như hai dãy hào thiên nhiên khổng lồ bao bọc lấy cố đô xưa của các vua Hùng. Phía đông với các dãy núi non trùng điệp. Vùng đất này có nhiều sông ngòi, ao hồ, đồi núi, lại có những cánh đồng màu mỡ phì nhiêu do phù sa của ba con sông bồi đắp, vừa thuận lợi cho cuộc sống định canh định cư, vừa thuận lợi cho việc phòng thủ hay rút lui khi xảy ra các cuộc xung đột bộ lạc.
Hiện nay, dấu vết cư trú của dân cư thời đại các vua Hùng còn để lại trong hàng chục di chỉ khảo cổ học, được phân bố dày đặc từ huyện Lâm Thao tới ngã ba Bạch Hạc — Việt Trì. Những di chỉ khảo cổ học đó là minh chứng một thời đại, với nghề luyện kim đồng thau và trồng lúa nước của một nền văn minh nông nghiệp, đã từng tồn tại trước công nguyên hàng nghìn năm.
Đền Hùng là trung tâm, là tiêu điểm về thời đại các vua Hùng. Các ngôi đền thờ vua Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh (còn gọi là núi Cả theo địa phương hay các tên khác: núi Hùng, núi Hy Cương), có độ cao 175m so với mặt nước biển. Trước kia, khu vực này là cánh rừng già nhiệt đới. Ngày nay, núi Hùng vẫn giữ dáng vẻ của rừng tự nhiên với nhiều thế hệ cây tầng khác nhau, gồm 150 loài thảo mộc, thuộc 35 họ, trong đó còn lại một số cây đại thụ lớn như đa, thông, thiên tuế, trò…
Núi Hùng trông xa giống như đầu của một con rồng lớn hướng về phía nam, mình rồng uốn lượn thành núi Trọc, núi Vặn, núi Pheo. Phía sau núi Hùng có những quả đồi lớn san sát nối liền dài tới 10km giống như đàn voi chầu về Đất Tổ. Phí trước là ngã ba Bạch Hạc với sự hợp lưu của ba dòng sông lớn nhất miền Bắc: sông Hồng, sông Lô, sông Đà tạo ra một vùng nước lớn mênh mông. Từ đó có những quả đồi nhấp nhô giống như một đàn rùa nước bò lên trầu về Nghĩa Lĩnh. Phía đông xa mờ là dãy Tam Đảo trùng điệp (núi mẹ), xa về phía nam là dãy Ba Vì cao ngất (núi cha) tụ lại. Sát núi Hùng còn có những quả đồi như phượng cặp (Tiên Kiên), hổ phục (Khang Phụ - Chu Hóa). Cảnh thế ngọan mục hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thủy tụ hội. Đứng trên đỉnh cao Nghĩa Lĩnh, ta có thể bao quát toàn bộ một vùng rộng lớn với cảnh đẹp của sơn thủy hữu tình. Tương truyền vua Hùng đã đi khắp mọi miền, về đây chọn làm đất đóng đô.
Giới thiệu về di tích lịch sử Đền Hùng từ xưa đến nay và việc thờ cúng tổ tiên trên vùng đất cổ Phong Châu, về sự quan tâm của nhà nước phong kiến, của Đảng, chính phủ, đặc biệt là sự quan tâm của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Đền Hùng đã và đang được tôn tạo, tu bổ, xây dựng xứng đáng là trung tâm văn hóa tâm linh của dân tộc Việt Nam.


--------------------------------------------------------------------------------

LĂNG TỔ PHÚ THỌ:
Được xây dựng vào thời gian nào không ai nhớ rõ. Xưa có thể là mộ đất có mái che, sau tới năm 1874, được xây dựng kiểu dáng như ngày nay.
Tương truyền phần mộ là của Vua Hùng thứ 6, theo lời dặn của Người: hãy chôn ta trên núi Cả, để đứng trên núi cao ta còn trông nom bờ cõi cho con cháu.
Cạnh Đền Thượng còn có một cột đá, người xưa truyền lại khi Thục Phán được Vua Hùng nhường ngôi, đã dựng cột đá trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh thề nguyện muôn đời bảo vệ giang sơn gấm vóc mà Vua Hùng trao lại và đời đời hương khói tại miều Vua Hùng. Đứng ở đỉnh cao Nghĩa Lĩnh nhìn quay lên hướng bắc, những quả đồi lớn nhấp nhô nối nhau thấp dần về Nam giống như đàn voi phục. Truyền thuyết kể rằng: đã có một trăm voi khi nghe tin Hùng Vương chọn đất đóng đô đã chầu về đất Tổ. Trong đàn voi có 99 con cùng quay đầu một hướng, có một con quay ngược lại hướng đàn, đã bị nàng Bầu (con gái cả của Hùng Vương thứ nhất) vâng lệnh cha chém chết con voi bất nghĩa. Ngày nay vẫn thấy cách đền Hùng Vương khảong 10km về phía Bắc (thuộc xã Phú Lộc) vẫn còn một quả đồi giống con voi quay ngược bị trừng trị vì tội phản phúc.
Ngày 19.9.1954 chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Thượng, xem bài minh chuông của quả chuông đền Thượng treo trên cây đại cổ thụ trước đền. Ngày 19.8.1962 Bác Hồ về thăm Đền Hùng lần thứ hai và nghỉ lại tại cửa ngách đông nam của Đền Thượng.

--------------------------------------------------------------------------------

ĐỀN GIẾNG PHÚ THỌ:
Kiến trúc có vào khoảng thế kỷ XVIII. Đền Giếng nằm dưới chân núi Hùng gồm ba lớp nhà và hai nhà oản hai bên. Tương truyền khi theo cha đi kính lý qua vùng này, hai nàng Tiên Dung- Ngọc Hoa con gái Vua Hùng Vương thứ 18 thường đến đây soi gương chải tóc. Hai nàng đã có công cùng chồng khẩn hoang, trị thuỷ, dạy dân trồng lúa xây dựng cuộc sống.
Theo truyền thuyết nàng Tiên Dung xinh đẹp, đến tuổi trăng tròn có nhiều người tài giỏi đến cầu hôn. Nàng Tiên Dung không muốn lấy chồng, để được thường xuyên đi du ngoạn núi rừng. Một lần Tiên Dung bơi dọc sông hồng về xuôi, tới vùng dạ trạch (khoái châu-hải hưng) Tiên Dung nghỉ, tắm trên bãi cát. Không ngờ gặp Chữ Đồng Tử, chàng trai nghèo khổ vì mẹ mất sớm, cha gà trống nuôi con, hai cha con nghèo có mỗi chiếc khố che thân, một năm cha chết nốt, Chữ Đồng Tử không nỡ bó chiếu chôn cha ở trần, còn cái khố cuối cùng nhường cha. Thấy thuyền của tiên dung neo bên bến cát, Chữ Đồng Tử không có quần áo đang ngâm mình đánh dậm dưới đầm, liền vùi mình trong cát. Vô hình nàng tiên dung quây màn tắm đúng chỗ Chữ Đồng Tử dấu mình, nước chảy cát trôi Chữ Đồng Tử bị lộ. Chàng trình bày gia cảnh vất vả xin nàng tha tội. Tiên dung thấy chàng là người hiếu nghĩa nên xin cha cho lấy. Nàng theo chồng về vùng dạ trạch, cùng chồng khẩn hoang, dạy dân trồng lúa.
Còn ngọc hoa xinh đẹp vua cho dựng lầu kén rể, hai chàng trai giỏi sơn tinh- thủy tinh cùng đến cầu hôn, thi tài. Cuối cùng sơn tinh thắng cuộc lấy được nàng ngọc hoa, hai vợ chồng về vùng núi tản quê hương của sơn tinh cùng dân làng trị thủy sông, trồng lúa nước, xây dựng cuộc sống. Thủy tinh thua cuộc hàng năm ôm hận, cứ đến mùa tháng 6, tháng 7 ( âm lịch), lại dâng nước làm lũ lụt lội đòi lại người yêu.
Tại đền giếng chiều ngày 18/9/1945, bác hồ đã về nghỉ ở đây, hôm sau 19/9/1945, bác đã gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ đại đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô. Lời bác dặn đã trở thành chân lý:
“ các vua hùng đã có công dựng nước bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Ngày xa xưa, núi nghĩa lĩnh là nơi thờ thần tự nhiên trước khi các vua Hùng. Tục truyền rằng hùng vương và các quan tướng thường đến đây làm lễ tế trời thờ lúa, cầu mong cho giống nòi sinh sôi nảy nở, mùa màng tốt tưới, cộng đồng no đủ. Do đó cho đến nay đền thượng vẫn còn có tên gọi kính thên lĩnh điện (tức điện thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh), là nơi cấm địa (đất cấm). Đồng bào địa phương còn kể chuyện lại rằng: trước đấy gần một thế kỷ vẫn có thờ hạt lúa thần. Đó là hình tượng hạt thóc làm bằng đá to như cái thuyền ba cẵng được thờ tại đền thượng. Phía sau núi nghĩa lĩnh còn có núi thứ hai cao gần bằng nghĩa lĩnh đó là núi trọc, còn có hòn cối xay hay là hòn đá ông đá bà( tục truyền là nghi thức thờ sinh lực khí). Như vậy từ xa xưa, cư dân ở đây đã có những tín ngưỡng phồn thực nông nghiệp tôn thờ những thế lực huyền bí của tự nhiên, mong được những thế lực đó phù hộ cuộc sống của con người. Khi con người chưa chế ngự khắc phục nổi tự nhiên, thì việc thờ các thần tự nhiên là lẽ tất nhiên. Về sau vào thời phong kiến độc lập tự chủ, khoảng thế kỉ XIII-XIV, với ý thức “ uống nước nhớ nguồn”, nhớ ơn tổ tiên dựng nước, ngườ việt xây dựng các ngôi đến thờ hùng vương trên núi nghĩa lĩnh. Ba ngôi đền : đền thượng, đền trung, đền hạ đều thờ 18 đời vua Hùng cùng các vị thần núi. Trong ba ngôi đền đều gồm 4 cỗ long ngai, 3 cỗ ngai chính diện bài vị thờ :
Đột ngột cao sơn cổ việt hùng, thị thập bát thế thánh vương thánh vị (thần núi cao, 18 đời hùng vương thánh vương thánh vị).
- Ất sơn thánh vương thánh vị (thần núi gần thánh vương thánh vị).
- Viễn sơn thánh vương thánh vị (thần núi xa thánh vương thánh vị ).
Đó là tục thờ thần núi (tam sơn cấm địa – 3 ngọn núi cấm) của cư dân vùng cao và cả 18 đời Hùng Vương. Như vậy vào khoảng thế kỷ VIII-XIV trên núi Nghĩa Lĩnh đã có tín ngưỡng thờ nhân thần (vua Hùng tổ tiên người Việt) bên cạnh các thiên thần.
- Cỗ long ngai thứ 4 lùi xuống phía bên trái của đền không bài vị thờ con gái vua Hùng. Trong truyền thuyết và văn tế đền hùng ngày xưa là thờ hai nàng Tiên Dung – Ngọc Hoa.
- Ngôi chùa thiền quang thờ phật
- Đền giếng thờ hai nàng công chúa tiên dung – ngọc hoa. Như vậy không kể một chùa và đền giếng thì các ngôi đền trên núi hùng ở ban cấp khác nhau, thờ giống nhau. Nguyên do là sự phát triển phân chia làng xã ở khu vực. Trước thế kỷ XIV, làng trẹo là cư dân duy nhất ở vùng này, làm đền giữa núi hùng để thờ tổ tiên (bây giờ là đền trung). Làng Trẹo về sau đông con cháu, mới tách làm hai làng. Làng mới đi vào Lũng Cỏ lập làng Cả là tiền thân của làng Cổ Tích sau này. Thế kỷ XV giặc ngoại xâm đã tàn phá Đền Trung và Làng Cả. Hoà bình trở lại, những người còn sống sót của cư dân làng Cả và một vài nơi khác đến ngụ cư tại chân núi Hùng, làng Cô Tích có từ đó. Làng Cổ Tích dựng đền Thượng, Chùa và Gác Chuông. Cùng thời gian đó làng Trẹo dựng lại Đền Trung trên nền đền cũ ở lưng chừng núi, kiến thiết cột gỗ lớn có thớt đá kê, mái lợp ngói.
Thế kỷ XVII làng Trẹo tách một dân nữa, làng mới này là làng Vi (nay thuộc xã Chu Hoá- huyện Phong Châu), làng Vi dựng Đền Hạ còn làng Trẹo và Cổ Tích thuộc xã Hy Cương- huyện Phong Châu. Vốn nguồn gốc cùng một cư dân, cùng thờ một vị thần nên khi tách làng xã các thần vẫn thờ giống nhau ở các đền khác nhau trên núi Nghĩa Lĩnh. Dân làng Cổ Tích quản lý và trông coi Đền Thượng, Chùa và Gác Chuông, Đền Giếng, làng Trẹo trông coi Đền Trung, Làng Vi trông coi Đền Hạ.
Thường ngày xưa có hai ngày cầu chính vào tháng giêng và tháng tám. Tháng ba cùng nhau mở cửa đền làm hội. Cư dân xã Hy Cương vào thời nhà Lê được nhận làm “con trưởng tạo lệ”, trong cuốn “Ngọc Phả” do trực hoạ Nguyễn Cố soạn năm 1470 có đoạn viết: “Phụng ban hương Trung Nghĩa (Cổ Tích) làm dân trưởng tạo lễ, cấp 500 mẫu ruộng tại xã Hy Cương, lại cho thu thuế ruộng của một vùng trên từ Tuyên Quang, Hưng Hoá, dưới Việt Trì làm hương hoả phụng thờ”.
Hàng năm con trưởng chỉ có nghĩa vụ đi lính, còn được miễn thuế khoá, tiền thuết và ruộng chỉ làm đèn nhang cúng lễ Đền Hùng. Thời xưa việc cúng Tổ vào ngày 12 tháng 3 âm lịch hàng năm, thường khi con cháu ở những miền xa về làm giỗ trước một ngày vào ngày 11 tháng 3 âm lịch. Cuốn Ngọc Phả Hùng Vương chép thời Hồng Đức hậu Lê còn có đoạn “Từ đời nhà Đinh, nhà Lê, Nhà Lý, nhà Trần rồi đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa (Cổ Tích). Ở đây nhân dân toàn quốc đều đến lễ bái để tưởng nhớ công lao của đấng thánh tổ xưa…”
Đền thời nhà Nguyễn định lệ 5 năm mở hội lớn một lần (vào các năm thứ 5 và 10 của thập kỷ) có quan triều đình về cúng tế cùng quan hàng tỉnh và ông chủ tế địa phương cúng vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, để những ngày sau cho nhân dân mọi miền về làm lễ hội. Do đó ngày giỗ tổ sau này mới là ngày 10/3 âm lịch hàng năm:
“ Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”.
Như vậy trong thời đại phong kiến, các vương triều luôn luôn coi trọng việc tế lễ Vua Hùng và xem đó như một việc hệ trọng của cả nước. Từ khi có Cách Mạng Tháng Tám thành công đến nay. Chính phủ nước Việt Nam đều tổ chức dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm theo nghi thức nhà nước.
Vào ngày lễ hội, lá cờ thần được treo trên đỉnh núi Hùng, có 41 làng xã thuộc đất Vĩnh Phú (riêng huyện Phong Châu là 38 làng xã) rước kiệu dâng lễ về lễ tổ. Trên các cỗ kiệu có bày lễ vật, đi kèm có phường bát âm tấu nhạc, cờ quạt bát bửu, lọng che cùng chiêng trống. Những làng ở xa thường phải rước 2-3 ngày mới tới. Lại có những hoạt động văn hoá mang đậm sắc thái dân gian truyền thống, trí thông minh và tinh thần thượng võ của người Việt như: Đu quay, đấu vật, chọi gà, kéo co, kéo lửa, nấu cơm thi, đánh cờ tướng, hát xoan, hát ví ghẹo… cờ tướng ở hội Hùng xưa không thể thiếu được, thường các năm tướng bà bao giờ cũng là người đẹp của đất Phong Châu, còn tướng ông có thể từ các vùng khác đến: hội xưa thường mở từ mùng 7 đến mùng 10/3 âm lịch, các cuộc cờ tướng cũng được tổ chức suốt mấy ngày hội. Đã không ít hội xưa, sau ba ngày hội, tướng bà theo tướng ông về xuôi, bất chấp cả luật lệ phong kiến hà khắc khi chưa cưới hỏi.
Hội Hùng là một lễ hội đặc biệt của dân tộc Việt Nam, người Việt về giỗ tổ tỏ lòng kính hiếu tôn trọng tổ tiên, nhưng cũng là để nhân thêm tình yêu thương con người, xứ sở, niềm tin vào cộng đồng của dân tộc Việt Nam.
Đền Hùng cùng ngày giỗ tổ giành cho tất cả mọi người Việt Nam, từ các Nguyên thủ quốc gia đến người dân nước Việt, tất cả các số phận, các cuộc đời, các ngành giới không kể tông giáo, miền ngược hay miền xuôi, trải qua bao thế kỷ người Việt vẫn về kính viếng tổ tiên. Tín ngưỡng cả nước thờ chung một ông tổ có lẽ trên thế giới này chỉ có ở Việt Nam, điều đó đã trở thành truyền thống, lẽ tự nhiên của dân tộc Việt.


--------------------------------------------------------------------------------

BẢO TÀNG HÙNG VƯƠNG PHÚ THỌ
Nhà bảo tàng Hùng Vương hai tầng, cao trên ba chục mét, hình vuông. Nhìn từ xa nhà bảo tàng giống như một khối hộp lập phương, cao vút nằm trên đỉnh một quả đồi ngay sát đền chính. Bảo tàng Hùng Vương là một ngôi nhà có hình thức đậm chắc mà trang nhã, bề thế mà lại rất thanh thoát, bắt đầu được khai móng năm 1986, với tổng số vốn đầu tư trển tỷ đồng, các nhà xây dựng đã cấu thành một ngôi nhà hoàn hảo hiện đại mà dân tộc. Hiện đại ở sự bề thế của quy mô xây dựng, tường ốp đá xẻ bao quanh với diện tích mặt bằng gần 1.000m2. Còn dân tộc vì đây là một chiếc nhà sàn, bốn bề có cột chống trụ. Đứng từ đỉnh núi Hùng nhìn xuống, nhà bảo tàng Hùng Vương như một chiếc bánh chưng vuông khổng lồ. Sự khổng lồ ấy được các nhà thiết kế giải thích dó là biểu hiện tượng trưng của quả đất theo quan niệm người xưa: Đất vuông trời tròn. Ở giữa nhà Bảo Tàng là một vùng trần thủng có khoảng trời nghiêng xuống lồng trong một khuôn trăng đầy đặn. Tổng thể sự hiện diện trời tròn đất vuông ấy là ý tưởng của người kiến trúc sư muốn khắc hoạ lại huyền thoại lịch sử: sự tích bánh dày, bánh chưng, mà ở đây, huyền thoại ấy chắc rằng mỗi người chúng ta nếu không thuộc lòng thí chí ít cũng đã một lần được nghe bà kể chuyện về hoàng tử Lang Liêu làm bánh dày, bánh chưng dâng tiến vua cha.
Câu chuyện cổ tích ấy đã phần nào nói lên được quan niệm vũ trụ của con người Việt Nam cổ đại, đồng thời còn nói lên được quan niệm vuông tròn trong tiềm thức, trong ước lệ, đó còn là triết lý nhân văn, triết lý toàn vẹn của con người Việt Nam. Sức người bằng sức lao động sáng tạo, lộc trời bằng hạt gạo, hoa đất bằng hương vị cây lá thiên nhiên đã cấu thành sản phẩm vật chất duy trì sự sinh tồn của đất nước qua nhiều thế hệ.
Nhà bảo tàng Hùng Vương được khánh thành đúng trong ngày khai hội Đền Hùng năm 1993. Nó tầm cỡ không chỉ vì đó là một trong ba bảo tàng Quốc Gia được người đứng đầu Đảng và Nhà Nước cắn rốn khai sinh:
- Bảo tàng cách mạng Việt Nam: thủ tướng Phạm Văn Đồng cắt băng khánh thành năm 1959.
- Bảo tàng Hồ Chí Minh: chủ tịch HĐBT Đỗ Mười cắt băng khánh thành năm 1990.
- Bảo tàng Hùng Vương: tổng bí thư Đỗ Mười cắt băng khánh thành năm 1993.
Sự tầm cỡ ở đây chính là nội dung khoa học- tiếng nói của những hiện vật lịch sử đang chứa đựng trong lòng nó.
Với hơn 700 hiện vật gốc trên tổng số hơn 3.000 hiện vật có trong kho bảo tàng, 162 bức ảnh, 5 bức tranh sơn mài, 9 bức gò đồng 5 hộp bình, 1 nhóm tượng lớn và nhiều hiện vật khác được trưng bày đã khắc hoạ chủ đề tổng quát: từ văn minh nông nghiệp các Vua Hùng dựng nước Văn Lang trên mảnh đất Phong Châu lịch sử (BAO gồm Vĩnh Phú và 1 phần Hà Tây, Hà Nội ngày nay).
Thăm quan bảo tàng Hùng Vương dù khách có là người du lịch hay là nhà nghiên cứu hoặc là người dân lao động bình thường, ai ai cũng đều cảm nhận được trước sự biến thiên vĩ đại của lịch sử dân tộc ta từ buổi bình minh, cuộc sống còn mông muội đã làm nên một vua Hùng và một nước Văn Lang.
Phần trưng bày của bảo tàng Hùng Vương được tập trung vào 3 chủ đề chính:
- Giới thiệu giai đoạn văn hoá Hùng Vương bằng các hiện vật liên quan đến thời đại Hùng Vương hiện tìm được trên đất Vĩnh Phú.
- Giới thiệu việc hình thành khu di tích Đền Hùng và ý thức xây dựng khu di tích Đền Hùng của nhân dân cả nước.
- Tình cảm của nhân dân, sự quan tâm cả các chế độ trước, đến Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng ngày nay đối với Đền Hùng.
Ý đồ nổi bật trong trưng bày bảo tàng Hùng Vương về nội dung và giải pháp kỹ thuật, mỹ thuật là việc giải quyết đề tài trưng bày mối quan hệ hữu cơ giữa văn hoá Hùng Vương, văn minh sông Hồng với lịch sử phát triển dân tộc Việt Nam.
Mục đích của ý đồ trưng bày nhằm làm rõ tầm quan trọng của khu di tích lịch sử Đền Hùng, Bộ Văn Lang và địa thế dựng nước của các Vua Hùng.
Trưng bày bảo tàng Hùng Vương đã cố gắng đảm bảo sự tuân thủ những nguyên tắc của phương pháp luận sử học Mác Xít và nguyên tắc bảo tàng học, trên đài trưng bày có 5 trọng tâm- 5 mốc lịch sử quan trọng trong quá trình hình thành con người Việt Nam, 5 trọng tâm ấy được nhân dân ở 5 vị trí trang trọng:
- Đất nước, con người một thời nguyên thuỷ
- Bắt đầu dựng nước.
- Sự nghiệp xây dựng nước Văn Lang của các Vua Hùng
- Khu di tích Đền Hùng và việc thờ cúng Vua Hùng trên thềm đất cổ Phong Châu
- Tình cảm của nhân dân, sự quan tâm của các chế độ trước đến Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng ngày nay với Đền Hùng.
Dọc theo 5 trọng tâm có 5 điểm phim tài liệu, khoa học phù trợ với nội dung lịch sử: Giỗ Tổ Hùng Vương, Vua Hùng dạy nhân dân cấy lúa, lễ hội Làng He, trò Trám và sự tích rước lúa thần, hát xoan và sự tích làm bánh chưng bánh dày, Vua Hùng đi săn.
Trưng bày Bảo Tàng Hùng Vương hướng tới chiều sâu. Tìm về cuội nguồn. Mục đích của giải pháp này nhằm làm rõ giai đoạn văn hoá Hùng Vương và thời đại Hùng Vương dựng nước.
Phòng 1: giới thiệu chung nội dung trọng tâm thứ nhất:
Đất nước, con người một thời nguyên thuỷ. Với số lượng hiện vật gồm 1 sa bàn, 1 hộp hình, 2 bức tranh sơn mãi cỡ lớn, 18 mẫu động thực vật, 12 mẫu khoáng sản, 20 công cụ đá Sơn Vi và một số ảnh chụp cùng những hiện vật khác đã khái lược hình thế thiên nhiên và sức sống buổi bình minh lịch sử của con người Việt Nam. Một vùng đất hợp lưu nơi ngã ba sông Hồng, Đà, Lô giàu đẹp và thuận lợi từ hàng vạn năm xa xưa đã trở thành môi trường tụ cư sinh sống cho các loại động, thực vật và cho con người. Lớp trầm tích tìm được và hộp hình cùng những ảnh chụp hang Ngựa (Thu Cúc- Thanh Sơn) là di chỉ xa xưa đầu tiên có dấu vết cư trú của con người cách nay trên 4 vạn năm. Dấu vết hoá thạch của các xương lợn rừng, hươu nai là dấu vết minh chứng cho sự vận động của con người chinh phục thiên nhiên để duy trì sự sinh tồn ở thời kỳ xa xưa ấy.
Trong tiến trình phát triển lịch sử xã hội, con người Việt Nam thời thượng cổ đã trải qua 5 giai đoạn văn hoá: Sơn Vi, Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn, 5 giai đoạn phát triển văn hoá là 5 bước tiến dài vạn dặm trong lịch sử phát triển của dân tộc. Hơn 100 địa điểm văn hoá Sơn Vi có độ tuổi từ 1 vạn rưỡi đến 2 vạn năm với những công cụ cuộc ghè đập là chứng tích sinh tồn của người nguyên thuỷ trên đất Vĩnh Phú- Văn Lang, đất bản bộ của các Vua Hùng.
Phòng 2: Bắt đầu thời dựng nước
Bằng những hiện vật gốc có chọn lựa phong phú từ ba nền văn hoá: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun… có nhiều tài liệu khoa học phụ mô tả từng mảng cuộc sống sinh hoạt của con người vận động hợp quy luật biến thiên của lịch sử. Công cụ đá mài từ giản đơn đến phức tạp, từ thô ráp đến tinh xảo: rìu có vai, rìu mài tứ diện, cuốc đá, chày nghiền, đồ trang sức (vòng tay đá, khuyên đá…) vô cùng phong phú bên cạnh những sưu tập gốm đa dạng: nồi, vò, bình gốm, bát gốm, dọc xe chỉ, chài lưới… được trưng bày nhằm giới thiệu cho người xem thấy được nghề sống chính của cư dân nguyên thuỷ nước ta là làm nông nghiệp, trồng lúa nước, săn bắt và hái lượm. Qua từng bước biến thiên của lịch sử, con người từ chỗ sống bằng săn bắt, hái lượm đã biết đấu tranh cải tạo thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cuộc sống con người. Nền kinh tế nông nghiệp một ngày phát triển. Cuộc sống con người dần no đủ, có tích luỹ của cải, có sự phân chia người nghèo, kẻ giàu có sự hình thành giai cấp. Những Nha chương bằng đá tìm được ở Gia Thanh, Thanh Đình(Phong Châu) là vật chứng điển hình chứng minh cho sự hình thành các tộc người, sự tập trung uy quyền vào người đứng đầu bộ tộc. Khi công cụ bằng đồng xuất hiện, những mùi cày đồng (Vạn Thắng), lưỡi liền đồng (Gò De), lưỡi rìu đồng (Làng Cả) được ra đời và ngày càng đa dạng, phong phú. Đó là dấu tích chứng minh cho sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp buổi ban đầu.
Những mũi lao, mũi tên đồng, lưỡi câu đồng là vật chứng không chỉ chứng minh cho sự phát triển trí tuệ và khả năng chinh phục thiên nhiên phục vụ cuộc sống con người. Đó còn là dấu hiệu khả năng tự vệ của con người trong sự đấu tranh giai cấp, đấu tranh sinh tồn giữa các tộc người trong xã hội có sự phân chia đẳng cấp.
Dấu tích sự ra đời của hạt lúa đã đánh dấu bước tiến dài trong lịch sử kinh tế nông nghiệp. Đó là hiện vật gốc chứng minh cho thành tựu lớn lao của con người chinh phục tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ cuộc sống con người.
Phòng 3: Sự nghiệp dựng nước Văn Lang của các Vua Hùng
Hàng năm hiện vật được trưng bày để nêu bật chủ đề văn hoá Đông Sơn – văn hoá Hùng Vương, song đáng chú ý gây ấn tượng sâu sắc nhất cho người xem là bộ sưu tập trống đồng (10 chiếc) được phát triển rải rác trên thềm đất Phong Châu. Tiêu biểu hơn cả là chiếc trống đồng Đền Hùng. Chiếc trống này được phát hiện tại làng Cổ Tích cách chân núi Hùng khoảng 500m. Cho tới nay trống đồng Đền Hùng được các nhà khoa học xếp vào các loại đứng đầu hàng dọc trong hệ thống trống loại 1 Hê gơ tìm thấy ở Việt Nam. So với trống đồng Đền Hùng kiểu dáng và cách thức trang trí tương đồng song có kích thước và dáng vẻ bề thế hơn và điều quan trọng là nó được tìm thấy ngay tại chân núi Hùng.
Bên cạnh trống đồng Đền Hùng là trống đồng Tân Long. Đây là một trong những chiếc trống có đường kính lớn nhất so với toàn bộ trống đồng tìm thấy ở Việt Nam (trống đồng có đường kính mặt 108 cm).
Bộ hiện vật điển hình thứ 2 là sưu tập vũ khí bằng đồng, lưỡi cày đồng, thuổng đồng, rìu đồng, dao găm đồng, mũi tên đồng, lao đồng…đa dạng và phong phú. Đó là dấu hiệu phản ánh giai đoạn văn hoá Đông Sơn phát triển rực rỡ, có sự phân diện rộng rãi từ biên giới phía bắc tới các tỉnh miền trung nước ta bây giờ. Công cụ đồng xuất hiện ngày càng đa dạng, phong phú và điêu luyện, cục diện kinh tế ngày càng phát triển đã đưa trình độ xã hội phát triển cao hơn. Các thủ lĩnh họ Hùng với cương vị đứng đầu bộ lạc văn lang từ nền tảng kinh tế lạc hậu thời kỳ đá mới qua giai đoạn sơ kỳ đồng thau đã vượt lên mở rộng địa bàn, đẩy mạnh sự phát triển văn minh và xã hội tới bước phát triển cực thịnh trong gia đoạn văn hoá công cụ đồng thau – sắt sớm. Từ sự liên minh bộ lạc đến sự áp phục 15 bộ lạc gần xa để trở thành thủ lĩnh liên minh bộ lạc rồi quân chủ quốc gia: Hùng Vương ở thiên niên kỷ 11 trước công nguyên. Bộ Văn Lang của các thủ lĩnh họ Hùng đã trở thành địa bàn gốc của nước Văn Lang. Một nhà nước xã hội kiểu “ phương thức sản xuất Châu A” ra đời, nhà nước đầu tiên của xã hội Việt Nam. Đó là thành tựu, là công lao vĩ đại không gì sánh nổi của các vua Hùng. Nền văn hoá mang sắc thái riêng và cốt cách riêng của dân tộc bắt đầu được hình thành và phát triển. Một giai đoạnh lịch sử, một thời đại mới ra đời: Thời đại xây dựng đất nước của các vua Hùng.
Phòng 4 và 5: giới thiệu khi di tích lịch sử Đền Hùng, vịêc thờ cúng vua Hùng trên thềm đất cổ Phong Châu, tình cảm của nhân dân, sự quan tâm của các chế độ xã hội tới Đền Hùng.
Cho tới nay qua kiểm kê di tích lịch sử văn hoá, trên đất Vĩnh Phú có 587 nơi thờ Hùng Vương, vợ con và tướng lĩnh các vua Hùng. Bên cạnh những dấu tích vật chất còn có những trang huyền thoại kỳ diệu phản ánh sự hào hùng, sự bay bổng kỳ diệu của những nhân thần, người anh hùng dân tộc đã có công dựng nước và bảo vệ đất nước.
Các ngôi đình làng: Hùng Lô, Đào Xá, Hương Nộn, Lâu Thượng, Cổ Tích…là những công trình kiến trúc hoàn hảo ở mọi góc độ được nhân dân lập nên để thờ cúng vua Hùng nhưng đó lại là di tích quan trọng vào bậc nhất. Ơ đó di tích không chỉ mang tính tưởng niệm trong các ngôi đền do dân đời sau lập nên mà ở đây dấu tích lưu niệm của các vua Hùng vẫn còn phảng phất trong những pho huyền thoại lịch sử.
Bộ hiện vật tiêu biểu của phòng 4 và 5 là bộ sưu tập ảnh lễ hội Đền Hùng trong thế kỷ XX và đặc biệt tiêu biểu hơn cả là bộ ảnh lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Đền Hùng năm 1954 với sự kiện lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Danh nhân Văn hoá Thế giới đã căn dặn: “ Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” với 61 tài liệu khoa học của các học giả, các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về Đền Hùng và thời đại Hùng Vương được trưng bày cùng với hơn 100 hiện vật do đồng bào Việt Nam khắp mọi miền thờ cúng vua Hùng đã nêu bật chủ đề: Tình cảm và trách nhiệm của nhân dân với Đền Hùng và các vua Hùng đã có công dựng nước.
Còn nhiều nữa hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước thăm viếng Đền Hùng xem xét quy hoạch tổng thể di tích Đền Hùng xây dựng nhà bảo tàng Hùng Vương…. Bên cạnh một số hình ảnh các đoàn khách quốc tế thăm Đền Hùng đều phản ánh tấm lòng của dân tộc và bè bạn với Tổ tiên dân tộc Việt Nam.
Trong nhà bảo tàng còn có 1 phòng chiếu video với sức chứa trên 50 người xem một lượt các bộ phim về lễ hội Đền Hùng xưa, nay, phim về một số tích trò dân gian theo thuyền thoại, lịch sử được chiếu phục vụ khách tham quan. Đó là những tài liệu hình ảnh sống động mô phỏng sự tích lịch sử đã cung cấp cho người xem nhiều tư liệu khoa học và một số lượng thông tin lớn về lịch sử Việt Nam, dân tộc Việt Nam, xã hội Việt Nam, văn hoá Việt Nam thời vua Hùng dựng nước.
Nhà bảo tàng Hùng Vương ra đời đã phần nào đáp ứng lòng mong đợi của đồng bào cả nước, của người Việt Nam sống xa Tổ quốc, của các nhà khoa học và của bè bạn Quốc tế. Thăm viếng Đền Hùng và tham quan nhà bảo tàng Hùng Vương người Việt Nam có được một dịp ôn lại truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, hiểu sâu sắc hơn về thời đại các vua Hùng dựng nước và tấm lòng toàn dân tộc với Đền Hùng. Còn đối với khách Quốc tế thăm Đền Hùng và bảo tàng Hùng Vương sẽ có dịp hiểu được ngọn nguồn dân tộc Việt Nam, văn hoá Việt Nam, truyền thống Việt Nam và đạo lý của con người Việt Nam.
Nhìn tổng thể nội dung và ý đồ trưng bày bảo tàng Hùng Vương là hướng người xem vào chiều sâu tư tưởng, nhận được dung mạo con người Việt Nam: Quá khứ – Hiện tại – Tương lai. Mặt khác nội dung trưng bày bảo tàng Hùng Vương phản ánh được mối quan hệ giữa vua Hùng – Đền Hùng và thời đại Hùng Vương dựng nước.
Bảo tàng Hùng Vương đã trở thành di sản văn hoá mọi thời đại. Đó là một thiết chế văn hoá quan trọng của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tưởng niệm công lao của các vua Hùng đã có công dựng nước.
Phú Thọ là nơi có các đình, đền, miếu để thờ các vua Hùng và các tướng lĩnh của vua Hùng nhiều nhất Việt Nam. Cho nên, lễ hội quan trọng và đáng kể nhất nơi đây phải nói đến đó là lễ hội giỗ tổ Hùng Vương- lễ hội đã được nhà nước công nhận là Quốc Lễ.
Toàn tỉnh có 700 điểm thờ, tập trung nhiều nhất ở Lâm Thao, huyện Tam Nông, thành phố Việt Trì, huyện Phù Ninh, huyện Thanh Thủy, huyện Cẩm Khê. Các đền thờ này chủ yếu thờ các bài vị sắc phong của các vua Hùng và tướng lĩnh.
Khu du lịch Bạch Hạc - Bến Cát
Phường Bạch Hạc, phường Bến Gót nằm ở phía Nam thành phố Việt Trì, cửa ngõ nối liền giữa Phú Thọ và các tỉnh miền núi phía Tây Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
Ngã ba Hạc từ lâu đã nổi tiếng bởi vùng sông nước hữu tình, nơi tụ nhân, tụ thuỷ, tụ khí, buôn bán kinh doanh sầm uất. Trên mảnh đất này còn tồn tại nhiều di tích lịch sử văn hoá, gắn liền với vùng "địa linh, hào khí", bên cạnh đó là những sự tích từ thời vua Hùng dựng nước Văn Lang. Cho đến ngày nay, vùng ngã ba Hạc vẫn còn tồn tại nhiều di tích lịch sử văn hoá có giá trị, có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như thể thao, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí....
Ngã ba Hạc hợp lưu bởi sông Thao, sông Đà, sông Lô, tạo nên dòng trong, dòng đục, nước sông rộng mênh mông như biển cả, xa xa tả có Tam Đảo, hữu có Ba Vì, hai bên bờ là các làng mạc, ruộng vườn tươi tốt, bến sông thuyền bè tấp nập vào ra.... tất cả những phong cảnh đó đã tạo cho ngã ba Hạc có cảnh trí vừa thơ mộng, vừa hữu tình. Bạch Hạc - Bến Gót ngày nay thuộc phủ Tam Đới xưa, còn tồn tại rất nhiều di tích lịch sử văn hoá, các truyền thuyết, chuyện kể về quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta như: “Hoa Long Thiền Tự” xưa ở bến sông Thông, cạnh chùa có một tảng đá ven sông, trên mặt còn hằn vết gót chân. Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi, Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên huý là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hoá thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc..... Ngoài ra trên mảnh đất này còn tồn tại rất nhiều sự tích ly kỳ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Hội bơi chải, Hội giã bánh dầy,... nói lên sự hình thành tên làng, tên xóm, tên sông, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của của nhân dân ta gắn liền với nền văn minh sông Hồng và nền văn minh lúa nước.
Với diện tích 100 ha, khu Du lịch Bến Gót được chia thành 2 phần ở bờ Bắc và bờ Nam sông Lô, trong đó phần lãnh thổ phía Bắc (thuộc phường Bến Gót) là chủ yếu. Khu du lịch có đặc trưng điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, với địa hình nhấp nhô, phần đất phía Bắc có vị thế như một bán đảo quay về hướng Đông Nam, tạo nên hình ảnh về bến nước, dòng sông. Đặc biệt là sự gắn kết hài hoà giữa đồi núi, cây cối, sông nước tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, thích hợp để xây dựng khu du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, vọng cảnh. Khu du lịch Bến Gót bao gồm những thành phần chủ yếu như: vui chơi giải trí, thể thao, nhà vườn, cắm trại, khách sạn, nhà nghỉ, câu cá, trại sáng tác, lầu bình thơ,... được tổ chức tạo thành trục chủ đạo đi từ cổng chính đến khu lầu tưởng niệm và vọng cảnh phía bờ sông, kết thúc là Lầu Bạch Hạc. Lầu Bạch Hạc được xây dựng theo hướng vươn cao vừa tượng trưng cho đàn tế trời vừa là nơi du khách có thể ngắm cảnh xa xa, dưới tầng lầu có bia tưởng niệm 100 người con của Lạc Long Quân - Âu Cơ, giúp cho du khách hiểu rõ hơn nguồn gốc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Bên cạnh Lầu Bạch Hạc được tái dựng tảng đá lưu vết chân và hình dáng tiên ông phân định ngôi thứ, mở đầu cho sự hưng thịnh, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần đất phía Nam chủ yếu dành cho các di tích lịch sử và thể thao nước truyền thống, một phần dành cho các nhà nghỉ nhỏ dưới dạng vườn nông thôn, vườn sinh thái,... Việc phân khu chức năng trên cơ sở địa hình của khu vực quy hoạch và các di tích lịch sử, truyền thuyết sẵn có của khu vực, tạo nên hệ thống không gian sinh động, gây ấn tượng mạnh mẽ, có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch.


--------------------------------------------------------------------------------

KHU DU LICH BẾN GIÓT PHÚ THỌ
Khu du lịch Bến Giót nằm tại Ngã ba Hạc thuộc hai phường Bạch Hạc và Bến Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Khu du lịch có diện tích khoảng 100ha, được chia thành 2 phần ở bờ Bắc và bờ Nam sông Lô, phần phía Bắc thuộc phường Bến Gót đây là phần chủ yếu, còn phần phía Nam thuộc phường Bạch Hạc.
Truyền thuyết
Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi, Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên huý là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hoá thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc.....
Ngoài ra trên mảnh đất này còn tồn tại rất nhiều sự tích ly kỳ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Hội bơi chải, Hội giã bánh dầy,... nói lên sự hình thành tên làng, tên xóm, tên sông, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của của nhân dân ta gắn liền với nền văn minh sông Hồng và nền văn minh lúa nước.
Cảnh quan
Khu du lịch Bến Gót có đặc trưng điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, với địa hình nhấp nhô, phần đất phía Bắc có vị thế như một bán đảo quay về hướng Đông Nam, tạo nên hình ảnh về bến nước, dòng sông. Đặc biệt là sự gắn kết hài hoà giữa đồi núi, cây cối, sông nước tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, thích hợp để xây dựng khu du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, vọng cảnh.
Khu du lịch bao gồm các khu vui chơi giải trí, thể thao, nhà vườn, cắm trại, khách sạn, nhà nghỉ, câu cá, trại sáng tác, lầu bình thơ,... được tổ chức tạo thành trục chủ đạo đi từ cổng chính đến khu lầu tưởng niệm và vọng cảnh phía bờ sông, kết thúc là Lầu Bạch Hạc. Lầu Bạch Hạc được xây dựng theo hướng vươn cao vừa tượng trưng cho đàn tế trời vừa là nơi du khách có thể ngắm cảnh xa xa, dưới tầng lầu có bia tưởng niệm 100 người con của Lạc Long Quân - Âu Cơ, giúp cho du khách hiểu rõ hơn nguồn gốc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Bên cạnh Lầu Bạch Hạc được tái dựng tảng đá lưu vết chân và hình dáng tiên ông phân định ngôi thứ, mở đầu cho sự hưng thịnh, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần đất phía Nam chủ yếu dành cho các di tích lịch sử và thể thao nước truyền thống, một phần dành cho các nhà nghỉ nhỏ dưới dạng vườn nông thôn, vườn sinh thái,...


--------------------------------------------------------------------------------

LÀNG NGHỀ PHÚ THỌ
Phú Thọ là một vùng đất cổ, nơi phát tích của dân tộc Việt Nam . Kế thừa những truyền thống tốt đẹp, người Phú Thọ qua bao đời còn lưu giữ nhiều tính cách đặc trưng của con người Việt Nam . Không chỉ giàu sáng tạo trong lao động, giàu khí phách trong đấu tranh, giàu nhân ái trong cuộc sống, con người nơi đây còn có óc thẩm mỹ và bàn tay tài hoa của người nghệ sỹ. Sản phẩm làng nghề Phú Thọ là một trong những bằng chứng cho nhận định đó. Mặc dù không phải là đất nghề nhưng nghề thủ công ở Phú Thọ lại tồn tại và phát triển khá bền vững theo thời gian. Và đến nay, các sản phẩm đó chưa hẳn đã đem lại giá trị kinh tế cao nhưng mỗi sản phẩm lại gửi gắm trong đó tâm hồn, tính cách của những người con Đất Tổ.

MỸ NGHỆ THAN TRE PHÚ THỌ
Đi theo quốc lộ 32, bên dòng sông Hồng chúng ta sẽ đến Phú Lạc, một xã miền núi thuộc huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Đến các cơ sở sản xuất ở đây, chúng ta sẽ được tận mắt chứng kiến một thế giới than tre mang đậm dáng dấp cổ x ưa, với rất nhiều các mặt hàng thủ công mỹ nghệ độc đáo từ than tre như các loại cốc uống nư ớc đ ược trang trí khá cầu kỳ, những chiếc lọ hoa với nhiều hình dáng tự nhiên, những chiếc thìa pha cà phê xinh xắn, những chiếc mành than thanh mảnh dọc lối đi, hay những giò phong lan thơm ngát bằng than tre. Chính do đặc tính lọc sạch n ước, khử mùi, khử khí độc...mà các vật dụng mỹ nghệ từ than tre trở nên vô giá, không chỉ đem lại vẻ đẹp nghệ thuật mà còn có lợi cho sức khoẻ con ng ười, cải thiện môi trường sống và luôn đư ợc coi nh ư một mặt hàng xa xỉ.

Các quốc gia có công nghệ phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,... rất ư a chuộng các sản phẩm từ than tre để lọc nư ớc, khử mùi, hút khí độc. Than tre đ ược tạo thành bằng phương pháp đốt yếm khí tre và các vật liệu họ tre. Để đốt đ ược than tre là cả một nghệ thuật mà nếu không có sự thấu hiểu về tre thì không thể thành công đư ợc. Nếu đốt quá lửa thì than sẽ thành tro, còn đốt chư a đủ thời gian thì than sống. Hơn nữa, phải điều chỉnh nhiệt độ đốt sao cho than đốt phải được cứng, có tiếng kêu leng keng nh ư sắt và có bề mặt hấp thụ lớn nhất... Khó là vậy, như ng than tre sản xuất tại Phú Lạc (Cẩm Khê) đã tạo đư ợc uy tín lớn trên thị trường bởi chất l ượng v ượt trội.

NGHỀ LÀM NÓN LÁ PHÚ THỌ
Là đất cọ nên nghề làm nón phát triển ở Phú Thọ cũng là lẽ thường. Tuy vậy, bao năm qua, nón lá trắng, nón lá già Phú Thọ vẫn chỉ bó gọn trong không gian hẹp, âm thầm và miệt mài. Không có tiếng tăm như nón làng Chuông (Hà Tây) hay nón bài thơ xứ Huế, nón Phú Thọ có nét thanh tú, hài hoà, bình dị, bền và đặc biệt rất thích hợp túi tiền người lao động.
Phú Thọ có nhiều nơi làm nón lá, nhưng ở quy mô làng thì chỉ có ở Sơn Nga, Sai Nga, Thanh Nga, gần đây thêm Đông Phú, Phú Khê. Trong đó Sơn Nga là làng nghề lâu đời nhất của vùng nón nhưng nay làm ít và kém hiệu quả. Sai Nga là làng trù phú nhất, từ vài chục năm qua, tại đây lúc nào cũng nhộn nhịp các công việc về nón, mỗi nhà trở thành một công xưởng nhỏ với các công đoạn nhịp nhàng từ phẳng lá hồ, chẻ vanh tới cắt, ghép, khâu.
Một chiếc nón đẹp phải đảm bảo mái nón phẳng phiu, đường khâu mượt mà, những vết khâu trải trên mỗi vành theo những khoảng cách đều tăm tắp. Giữa hai lớp lá mỏng, người ta gài vào lòng nón những hình trổ như hình hoa lá, đôi nét kiến trúc cổ kính và đôi khi cả mấy câu thơ trữ tình, lặng thầm mà đầy thi tứ:
Bình, dị, trắng, bền là nón Sông Thao
Hỡi ai đi ngược về xuôi, muốn đội nón đẹp thì về Sông Thao.
Đã bao giờ bạn ghé vào một hàng nước ven đường và gọi cho mình một chén trà nóng giữa mùa đông lạnh giá chưa? Để giữ ấm cho chén nước của bạn, người bán hàng đã dùng một sản phẩm thủ công đặc trưng của làng quê Việt Nam , đó là chiếc ủ ấm. Có người bảo, đây là sản phẩm của những người hoài cổ, cuộc sống hiện đại đã có những đồ dùng tiện dụng hơn nhưng dù thế nào ủ ấm vẫn là sản phẩm đặc dụng trong nhiều gia đình Việt Nam và là một trong những món quà được du khách quốc tế ưa chuộng.
Sơn Vy, một ngôi làng nhỏ thuộc huyện Lâm Thao - Phú Thọ là quê hương của sản phẩm độc đáo này. Nghề ủ ấm đã có mặt ở Sơn Vy hơn 100 năm nay, có lúc thịnh, có lúc suy nhưng đến nay vẫn tồn tại. Với bàn tay khéo léo của mình, người Sơn Vy đã tạo ra loại ủ ấm có dáng vẻ độc đáo riêng. Mỗi chiếc ủ ấm là một đồ dùng bền, đẹp, giữ nhiệt tốt, làm đậm đà cho những ấm nước chè xanh, lá vối, nhân trần... trong suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.
Huy chương Bạc dành cho sản phẩm ủ ấm Sơn Vy tại hội chợ triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ toàn quốc là một đánh giá xác đáng về giá trị của ủ ấm Sơn Vy. Thêm một chút sáng tạo độc đáo hay chú trọng tới việc trang trí, hiện đại hoá chiếc ủ ấm cổ truyền,... chắc chắn giá trị của ủ ấm Sơn Vy sẽ được nâng cao hơn, sức sống của làng nghề Sơn Vy sẽ bền vững dài lâu.
Xóm Đoàn Kết thuộc xã Hùng Lô - huyện Phù Ninh nổi tiếng với nghề làm miến, mỳ gạo, bún, bánh hàng trăm năm qua. Không làm ăn lớn, không thương hiệu hàng hoá, chỉ có một cách để người tiêu dùng khắp cả nước nhận ra sản phẩm của Đoàn Kết - Hùng Lô, đó là chất lượng.
Núp dưới những mái nhà, làng nghề vẫn tồn tại bền bỉ và khiêm tốn. Nếu không vào tận nơi chứng kiến cảnh làm việc rộn ràng của các máy xay, máy xát thì ít ai có thể biết rằng từng thế hệ người Hùng Lô đã lớn từ mẻ mỳ, cân miến. Nghề làm miến, mỳ gạo không đòi hỏi vốn lớn nên hộ gia đình nào cũng có thể làm được, có ít làm ít, có nhiều làm nhiều, nghề có rải rác khắp các xóm thuộc xã Hùng Lô. Cách đây khoảng chục năm, người làm nghề hoàn toàn làm thủ công, hiện nay máy móc đã thay thế sức người vì thế năng suất và sản lượng không ngừng tăng lên (có hộ gia đình sản lượng đạt tới 2-3 tạ/ngày). Như vậy, chỉ tính sơ sơ thì mỗi ngày xã Hùng Lô cũng cung cấp ra thị trường hàng chục tấn thực phẩm khô các loại, bao gồm mỳ, miến, bánh đa nem, bánh đa trắng....
Nhắc đến nghề mộc chắc chắn mọi người sẽ nghĩ ngay tới những cái tên như Đồng Kỵ (Bắc Ninh) hay La Xuyên ( Nam Định). Giá trị kinh tế từ những làng nghề này đang được tính bằng những con số khổng lồ. Nhưng ở đâu đó những làng nghề mộc với quy mô nhỏ hơn vẫn cần mẫn làm giàu cho người và làm đẹp cho đời.
Làng mộc Minh Đức (xã Thanh Uyên - huyện Tam Nông - Phú Thọ) là một ví dụ tiêu biểu. Sản phẩm chủ yếu của làng nghề này là những sản phẩm thông dụng như giường, tủ,... Không quá cầu kỳ bởi người sử dụng chủ yếu đòi hỏi về độ bền, nhưng không vì thế mà sản phẩm mộc Minh Đức mất đi vẻ đẹp đặc trưng bình dị. Nghề có từ bao giờ không ai còn nhớ, chỉ biết đến hôm nay nó là nghề của cả làng với tổng giá trị hàng năm ước đạt vài chục tỷ đồng (chiếm 95% thu nhập của làng).
Cùng với thời gian, sản phẩm mộc Minh Đức đã có mặt ở mọi miền tổ quốc, bắt đầu từ những vùng nông thôn rồi đến thành thị nhưng không phải ai cũng biết tên của sản phẩm họ đang dùng. Gắn được tên làng cho sản phẩm của mình vẫn luôn là niềm mơ ước của mỗi người dân làm nghề ở Minh Đức.
Hy vọng, với những nỗ lực của chính quyền địa phương, của người làm nghề và sự ủng hộ của người tiêu dùng, điều đó sẽ trở thành hiện thực trong thời gian sớm nhất. Đó cũng là cơ sở để sản phẩm mộc Minh Đức có thể nhanh chóng tiếp cận với thị trường và hoà vào sự phát triển chung của sản phẩm mộc Việt Nam .

--------------------------------------------------------------------------------

MỎ NƯỚC KHOÁNG THANH THỦY PHÚ THỌ
Khu mỏ nước khoáng nóng Thanh Thuỷ thuộc địa phận xã La Phù và xã Bảo Yên, huyện Thanh Thuỷ, cách thành phố Việt Trì 30 km, cách Xuân Sơn 60 km.
Qua nghiên cứu cho thấy, mỏ nước khoáng này được phân bố trên diện tích chừng 1 km2, có hình dạng như một quả bầu nậm, kéo dài theo hướng sông Đà. Nhiệt độ trung bình của nước khoáng nóng từ 37oC đến 43oC, tổng trữ lượng là 19.710.000 m3, lưu lượng khai thác đạt 483 m3/ngày. Trong nước khoáng nóng có nhiều hàm chất vi lượng như natri, canxi, magiê, đặc biệt có chứa nhiều hàm chất radon - một loại nước radon quý hiếm lần đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam rất thích hợp cho việc tắm ngâm, phục hồi sức khoẻ và chữa bệnh.
Với đặc điểm gần Hà Nội, tiếp giáp Hà Tây - mảnh đất nhiều điểm du lịch nổi tiếng cả nước, hơn nữa còn khá nhiều cảnh quan thuộc các xã xung quanh La Phù trên địa bàn huyện Thanh Thủy nên chắc chắn đây sẽ là một sự lựa chọn mới cho du khách khi đến với Phú Thọ!

--------------------------------------------------------------------------------

PHÚ THỌ VÙNG ĐẤT LỄ HỘI PHÚ THỌ

HỘI BẠCH HẠC
Hàng năm diễn ra từ ngày mồng 3 đến mồng 5 tháng Giêng tại xã Bạch Hạc, thành phố Việt Trì. Trong lễ hội có trò thi tung Còn ở Đền Cả, lễ tiếp Còn, ngâm thơ Còn và cúng cơm Còn. Ngày cuối lễ hội có lễ hạ và cướp Còn cầu may.

HỘI CHU HÓA
Lễ hội diễn ra tại xã Chu Hoá - huyện Lâm Thao vào ngày mồng 5 tháng Giêng hàng năm để tưởng nhớ ba anh em Cả Đông, Nhị Đông và Tam Đông, các ông chính là những tướng giỏi thời Vua Hùng thứ 18. Trong lễ hội có diễn trò “chạy kem” diễn lại sự tích thần làng.

HỘI MỞ CỬA RỪNG
Diễn ra từ ngày mồng 6 đến ngày 15 tháng Giêng tại huyện Thanh Sơn. Mở đầu là lễ cúng cung tên để mở hội săn bắn, sau đó từng đôi nam nữ múa theo điệu “gà phủ”, thể hiện tín ngưỡng phồn thực.

HỘI ĐÁNH CÁ

Được tổ chức tại các vùng đồng bào Mường thuộc xã Thạch Kiệt, huyện Thanh Sơn. Đây là lễ hội mừng Xuân tại khu vực sát bản. Trong lễ hội người ta dùng các giỏ bắt cá (dùng nhiều đồ vật khuấy nước lên cho cá chui vào giỏ) để tế lễ và chia cho các gia đình.
HỘI HÁT XOAN - HÁT GHẸO

Trong gia sản to lớn về dân ca, dân vũ và nghệ thuật sân khấu cổ truyền, hát Xoan và hát Ghẹo là hình thức rất độc đáo. Ngoài giá trị về nghệ thuật, âm nhạc trong hát Xoan, hát Ghẹo còn cho chúng ta thấy cái tư tưởng bên trong của loại hình nghệ thuật này. Đó là tình, là nghĩa đối với nhau, dành cho nhau, của mình với bạn, của liền anh với liền chị, của làng ta với làng mình, của xuôi với ngược...
Hát Xoan Ở đây không phải là thể thực, một lề lối ca hát thuần nhất mà thực sự là một hội. Hội Xoan có đủ các tục của tín ngưỡng phồn thực thời cổ đại, những lễ tiết đúng phong tục kỳ yên, kỳ phúc của làng quê như các buổi tiệc khai xuân, cầu đinh, hạ điền, cầu nước. Hội Xoan có dân ca, giao duyên, đối đáp, xin hoa, đố chữ. Hội Xoan có cả múa hát trình diễn sân khấu dân gian với những tiết mục khá hấp dẫn như “cài hoa, mó cá”. Ca từ trong hát Xoan là một diễn đạt khéo, sử dụng cái hay của cả hai dòng: bác học và dân gian. Mỗi tiết mục của hội Xoan có thể được coi như tấm gương phản ánh những nét sinh hoạt sống động một thời của xã hội nông nghiệp, ngư nghiệp với những tình cảm nồng hậu của con người. Hội Xoan đã cho ta một ý niệm khá rõ nét về con người trong cuộc sống văn hoá dân gian vùng đất Tổ. Tiếng hát đỡ cho con người ra đời, cho con người mất đi những tiếng khóc trong cuộc đời và đem lại cho con người sức mạnh.
Hát Ghẹo Là một hình thức đối đáp nam nữ trong ví giao duyên, trai gái hát ghẹo nhau. Ghẹo Phú Thọ còn gọi là Ghẹo Nam Cường vì xã Nam Cường (Tam Nông) là trung tâm cũng là đầu mối của hát Ghẹo. Hát Ghẹo Phú Thọ không thuộc loại hình dân ca nghi lễ phong tục như hát Xoan Phú Thọ, hát Bá Trạo Quảng Bình hay hát chầu văn mà là hát đối đáp, giao duyên nam nữ, điều đặc biệt ở hát Ghẹo Phú Thọ là giao duyên theo phong tục “nước nghĩa” giữa trai gái Việt và Mường. Đây là sản phẩm văn hoá và giá trị tinh thần của chung hai dân tộc Việt - Mường duy nhất chỉ thấy ở Phú Thọ.

THUÊ XE DU LỊCH
THUÊ XE 4 CHỖ
THUÊ XE 7 CHỖ
THUÊ XE 15 CHỖ
THUÊ XE 16 CHỖ
THUÊ XE 24 CHỖ
THUÊ XE 25 CHỖ
THUÊ XE 29 CHỖ
THUÊ XE 30 CHỖ
THUÊ XE 35 CHỖ
THUÊ XE 45 CHỖ
THUÊ XE 50 CHỖ

LỊCH KHỞI HÀNH TOUR TRONG NƯỚC - NỘI ĐỊA
BẢNG GIÁ CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH TRONG NƯỚC - DU LỊCH NỘI ĐỊA

Tin liên quan:
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ khách hàng
 
 Tel: 3995 1033 - 3995 1021
 Hotline: 0919.221.009
 Fax: (84-8) 3995 1024
 Emal: huutoan@saigontoserco.com
 ADD: 86/6 Thích Quảng Đức,P5,Q.PN
 
thue xe du lich 4 cho
thue xe du lich 7 cho
thue xe du lich 16 cho
thue xe du lich 25 cho
thue xe du lich 30 cho
thue xe du lich 45 cho
Địa chỉ: 86/6 Thích Quảng Đức, P.5, Q.Phú Nhuận, Tp.HCM.
Tel: (84.8)3995 1033 - 3995 1021 - Fax: (84.8)3995 1024
Hotline: 0919.221.009
Emal: info@saigontoserco.com
Copyright © SaigonToserco.com. All rights reserved.